NHẬN XÉT LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ  GÃY XƯƠNG HÀM TRÊN LEFORT II

NHẬN XÉT LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG HÀM TRÊN LEFORT II

NHẬN XÉT LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

GÃY XƯƠNG HÀM TRÊN LEFORT II

 

Bs. Lê Quý Thảo

CK II. Răng Hàm Mặt

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Huế

 

Chấn thương hàm mặt nói chung, gãy xương hàm trên nói riêng là tai nạn thường gặp và ngày càng tăng. Tổn thương không những phần mềm, các xương mặt, hệ thống răng, mà còn tổn thương các bộ phận khác của cơ thể.

Số bệnh nhân nhập viện vì chấn thương gãy, vỡ xương hàm tại các tuyến cơ sở và tuyến trung ương không ngừng tăng lên. Mức độ tổn thương nặng nề hơn, gây ảnh hưởng lớn đến vấn đề thẩm mỹ, sang chấn về tâm lý và có thể ảnh hưởng đến tính mạng nếu không nắm được những nguyên lý cơ bản trong xử trí. Trong giao tiếp xã hội khuôn mặt ấn tượng trước tiên, vì vậy vết thương hàm mặt làm bệnh nhân quan tâm và lo lắng. Chấn thương xương hàm trên thường kết hợp với gãy xương gò má cung tiếp chiếm tỷ lệ cao (34,9%) trong tổng số các chấn thương vùng hàm mặt.

Hậu quả của gãy xương hàm trên nhất là gãy Lefort II không những ảnh hưởng tới chức năng, thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng lớn trong sinh hoạt xã hội.

Gãy xương hàm trên là một đề tài lớn của lĩnh vực chấn thương vùng hàm mặt nói chung đã được nghiên cứu từ lâu tại các thời điểm khác nhau. Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trang thiết bị ngày càng hiện đại, phương pháp điều trị cũng được cải tiến, nhưng do điều kiện khác nhau taịi các địa bàn, việc chuẩn đoán và chọn lựa phương pháp điều trị cũng linh hoạt.

Để góp phần làm rõ thêm hình thái bệnh lý và đánh giá phương pháp điều trị gãy xương hàm trên, chúng tôi chọn đề tài : “Nhận xét lâm sàng, X-Quang và kết quả điều trị gãy xương hàm trên LeFort II” nghiên cứu với hai mục tiêu:

  1. Nhận xét lâm sàng, X-Quang của gãy xương hàm trên LeFort II
  2. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy xương hàm trên LeFort II.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 

  • Đối tượng nghiên cứu
  • Tất cả bệnh nhân bị chấn thương hàm mặt được chẩn đoán là gãy XHT hai bên kiểu LeFort II, được điều trị tại Khoa Phẫu thuật Hàm Mặt – Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia
  • Những bệnh nhân chỉ gãy LeFort II đơn thuần.
  • Những bệnh nhân gãy LeFort II có kèm gãy một hay nhiều xương khác ở mặt, hoặc cơ quan khác.
  • Số lượng bệnh nhân được thu thập từ tháng 3/2006 đến 10/2006, gồm 30 bệnh nhân.
  • Tiêu chuẩn xác định bệnh dựa theo chẩn đoán cuối cùng của khoa Hàm Mặt, có kết hợp với phim X-Quang.
    • Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Phẫu thuật Hàm Mặt – Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia, là một trong những tuyến chuyên khoa cuối cùng của chuyên ngành phẫu thuật hàm mặt.

  • Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

  • Tham gia khám, chẩn đoán, phẫu thuật, theo dõi và đánh giá kết quả theo mẫu bệnh án chung của Viện RHM Quốc gia.
  • Lập phiếu theo dõi
  • Chụp ảnh chân dung trước mổ, chụp ảnh Blondeau, Hirtz kiểm tra trước khi xuất viện
  • Chụp ảnh chân dung sau 6 tuần đến khám lại, khám lâm sàng ghi lại những tổn thương phối hợp. Chụp X-Quang phim Blondeau, Hirtz, để kiểm tra trước khi tháo treo.
  • Đánh giá kết quả ngay khi ra viện, sau 6 tuần và 3 tháng.
  • Khám lâm sàng

– Nguyên tắc khám ( tuân theo nguyên tắc chung của khám chấn thương miệng – hàm mặt).

  • Khám cận lâm sàng

Làm những xét nghiệm cơ bản: công thức máu, các xét nghiệm sinh hoá (máu, nước tiểu).

Chụp phim X-Quang như: Blondeau, Hirtz, CT, dựng 3D…

  • Phương pháp phẫu thuật
  • Đường vào gãy LeFort II: Thường dùng đường rạch tiền đình khi gãy đơn thuần. Nếu có tổn thương phối hợp thì dùng thêm đường rạch mấu ngoài ổ mắt, bờ dưới ổ mắt, đường chân tóc.
  • Các đường vào phẫu thuật điều trị gãy XHT.
    • Đường trong miệng:
    • Đường rạch ngoài da: (những đường qua da cần phải được chọn ở những vị trí có thể dấu được các vết sẹo và đạt được một cách tốt nhất về thẩm mỹ. Các đường này được thực hiện qua các nếp, rãnh khoé tự nhiên trên mặt).
  • Kết hợp xương bằng nẹp vít:
  • Kết hợp xương bằng chỉ thép và treo XHT:
    • Khâu kết hợp xương bằng chỉ thép: Phương pháp dùng chỉ thép (vật liệu bằng Chromenickel) lỗ khâu được tạo bởi mũi khoan ở hai đầu đường gãy buộc lại.

* Chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị theo: Giải phẫu, chức năng, thẩm mỹ theo 3 mức độ: tốt, khá, kém (bảng2.1)

Bảng 2.1. Chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị

Kết quả điều trị

Giải phẫuChức năngThẩm mỹ
Tốt–          Xương liền tốt

–          Không biến dạng

–          Không di lệch

–          Khớp cắn đúng

–    Ăn, nhai, nuốt, nói và cảm giác bình thường

–    Há ngậm miệng bình thường

–    Mặt không biến dạng

–    Vết mổ đẹp

Khá-Xương liền

-Biến dạng và

di lệch ít

–    Ăn nhai được

–    Há miệng hạn chế ít <=3cm

–    Mặt biến dạng ít

–    Vết thương phần mềm có thể phải sửa lại

Kém-Xương liền kém hoặc không liền

-Xương biến dạng

-Khớp cắn sai

–    Há miệng hạn chế

–    Khớp cắn sai

–    Ăn nhai khó hoặc không ăn nhai được

–    Xương và phần mềm biến dạng

–    Cần phải phẫu thuật lại

2.4. Xử lý số liệu

Tất cả các số liệu thu nhập thập, tổng kết và xử lý bằng thuật toán thống kê y học x2 theo chương trình EPI-INFO 6.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

 

Qua nghiên cứu 30 bệnh nhân chấn thương gãy xương hàm trên có đường gãy LeFort II, kết quả thu được như sau:

3.1. Gãy xương hàm trên LeFort II theo giới:

Có sự khác biệt lớn về tỷ lệ bệnh nhân nam (93,3%), và bệnh nhân nữ (6,7%).

3.2. Gãy xương hàm trên LeFort II theo nhóm tuổi:

Nhóm tuổi hay gặp nhất là 19-39 tuổi (73,3%), sau đó là nhóm tuổi trung niên 40-59 tuổi (16,7%); nhóm tuổi 6-18 có 3 ca (10%); không gặp ca nào trong nhóm tuổi nhi đồng và nhóm tuổi từ 60 trở lên.

3.3. Nguyên nhân gãy xương hàm trên LeFort II:

Theo kết quả thu được nguyên nhân do tai nạn lao động chỉ chiếm 10%, chủ yếu là tai nạn giao thông chiếm 90%, cụ thể do tai nạn xe máy.

3.4. Phân loại theo đối tượng chấn thương:

Đối tượng nông dân lao động chiếm tỷ lệ cao nhất 40,0%, công nhân 26,7%, cán bộ viên chức 16,7%, học sinh – sinh viên chiếm tỷ lệ 13,3%, lực lượng vũ trang chỉ chiếm 3,3%.

3.5. Phân loại theo địa bàn dân cư:

Những người sống trên địa bàn nông thôn gặp trong nghiên cứu với tỷ lệ cao nhất là 56,7%, thị xã – thị trấn chiếm 33,3%, thành phố chiếm 10%.

3.6. Biểu hiện lâm sàng và X-Quang gãy LeFort II:.

Trong 30 bệnh nhân được nghiên cứu thấy các dấu hiệu mặt biến dạng, há miệng hạn chế, mất liên tục xương và khớp cắn sai có 100%. Các dấu hiệu khác chiếm tỷ lệ cao và đáng tin cậy trong chẩn đoán có gãy xương là: đau chói khi ấn điểm gãy 93,3%; dấu hiệu di dộng bất thường hàm trên hai bên 93,3%.

Theo kết quả chúng tôi thu được trên phim CT.Scanner thấy rõ kết quả 100% thương tổn gãy LeFort II; Blondeau 95,0%; mặt nghiêng 93,5%; Hirtz 47,4%.

3.7. Gãy xương hàm trên LeFort II kèm tổn thương phối hợp:

Gãy LeFort II đơn thuần chiếm 26,7%; gãy LeFort II có kèm gãy XOR và răng chiếm tỷ lệ cao nhất 83,3%, sau đó là gãy phối hợp với XGM-CT 53,3%, với gãy XHD 43,3%, gãy dọc 18,7%.

3.8. Phương pháp điều trị gãy xương hàm trên LeFort II:

Đa số bệnh nhân được nhập viện và phẫu thuật trong tuần đầu (93,3%). Phương pháp kết hợp xương bằng nẹp víp + treo XHT được sử dụng nhiều nhất với 22 trường hợp chiếm tỷ lệ 73,3% số ngày điều trị trung bình là 6.4.

Phương pháp kết hợp xuơng bằng chỉ thép +treo Adams chỉ có 8 trường hợp chiếm tỷ lệ 26,7%, số ngày điều trị trung bình là 8,1.

3.9. Đánh giá kết quả điều trị gãy LeFort II:

Kết quả điều trị ngay khi ra viện: Tốt: 86,7%, khá 13.3%

Sau 6 tuần chỉ có 20 bệnh nhân được khám chiếm 66.7% trong mẫu nghiên cứu. Kết quả tốt + khá là 100%.

Sau 3 tháng có 14/30 bệnh nhân đến khám chiếm 46,6% trong mẫu nghiên cứu. Kết quả tốt: 84,2%, khá 15,8%.

 

KẾT LUẬN:

Qua nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị trên 30 bệnh nhân gãy XHT có đường gãy LeFort II được điều trị bằng phẫu thuật tại Viện RHM quốc gia, chúng tôi rút ra kết luận:

  1. Đặc điểm lâm sàng

– Gãy LeFort II gặp ở nam nhiều hơn nữ tỷ lệ nam/nữ 15/1.

– Nhóm tuổi hay gặp nhất là nhóm tuổi người trưởng thành 19-39 tuổi chiếm 73,3%

– Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông 90% trong đó xe máy 100.

– Đối tượng nhiều nhất là nông dân 40% và những người sống trên địa bàn nông thôn 56.7%.

– Biểu hiện lâm sàng và dấu hiệu có giá trị chẩn đoán là: mặt biến dạng, bầm tím, sưng nề, quanh hốc mắt hai bên, đau chói khi ấn điểm gãy, di động bất thường hàm trên hai bên, miệng há hạn chế và khớp cắn sai.

– X quang: Phim C.T-Scanner có giá trị chẩn đoán cao nhất.

– Gãy LeFort II đơn thuần chỉ gặp 26,7%, chủ yếu gãy phối hợp. Trong đó phối hợp với xương gò má-cung tiếp: 53,3%; với xương hàm dưới: 43,3%.

– Hướng lực sang chấn: Để có đường gãy LeFort II cần phải có lực đủ mạnh, trực tiếp vào vùng xương ổ răng và răng cửa trên.

  1. Phương pháp điều trị

Kết hợp xương bằng nẹp vít treo XHT hai bên được sử dụng chủ yếu chiếm 73,3% thời gian điều trị trung bình 6,4 ngày.

  1. Kết quả điều trị

– Ngay khi ra viện       : Tốt + khá = 100% (n=30)

– Sau 6 tuần tháo treo  : Tốt + khá = 100% (n=20)

– Sau 3 tháng               : Tốt + khá = 100% (n=14)

 

KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu lâm sàng, X-quang và kết quả điều trị gãy xương hàm trên LeFot II, chúng tôi xin đưa ra một sô kiến nghị sau:

– Phương pháp kết hợp xương bằng nẹp vít đem lại hiệu quả cao trong điều trị chấn thương hàm mặt, vì vậy cần được áp dụng rộng rãi ở tuyến tỉnh, thành phố trong cả nước.

– Cần đào tạo cập nhật kiến thức chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật, khuyến khích việc áp dụng và điều trị bằng nẹp vít ở các tuyến tỉnh và thành phố. Điều này giúp giảm tải bệnh nhân chấn thương hàm mặt chuyển viện, giảm tốn kém cho bệnh nhân.

– Hiện nay hệ thống nẹp vít tự tiêu và bán tự tiêu đang được nghiên cứu và áp dụng ở một số nước có nền y tế phát triển; giúp bệnh nhân không phải phẫu thuật lại để tháo nẹp, tránh các biến chứng có thể xảy ra do nẹp vít kim loại. Do đó, giảm được phần chi phí cho bệnh nhân. Vì vậy cần nghiên cứu áp dụng các loại nẹp vít tự tiêu cũng như các phương pháp và kỹ thuật mới có hiệu quả cao trong điều trị phẫu thuật kết hợp xương trong gãy xương hàm trên LeFort II nói riêng và chấn thương hàm mặt nói chung.

– Nguyên nhân chủ yếu của gãy xương hàm trên là do tai nạn giao thông. Chấn thương hàm mặt nói chung và gãy xương hàm trên nói riêng không chỉ là vấn đề của y tế mà còn là mối quan tâm của xã hội. Nhà nước cần có những biện pháp giúp người dân hiểu biết và chấp hành nghiêm luật giao thông. Người dân cần chấp hành quy định đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông cần được nâng cấp để tránh được những tai nạn giao thông đáng tiếc có thể xảy ra.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

  1. Hoàng Tuấn Anh (2001) “Nẹp vít mini một bản xương; kỹ thuật và chỉ định trong chấn thương mặt hàm”, Tạp chí phẫu thuật tạo hình, Tập VII, số (1), tr 38-42.
  2. Trần Cao Bính (2001), Nhận xét đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy xương hàm trên tại Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội (1999-2001), luận văn thạc sĩ y học, Hà Nội.
  3. Nguyễn Thế Dũng (2001) Lâm sàng và điều trị gãy xương hàm trên tại Bệnh viện Khánh Hoà trong 16 năm (1985-2001), tr8-15.
  4. Nguyễn Bắc Hùng (2000), chấn thương hàm mặt”, Bài giảng phẫu thuật tạo hình trường Đại học Y Hà Nội, tr 197 – 216.
  5. Nguyễn Tấn Phong (2001), Phẫu thuật điều trị chấn thương sọ mặt, Nhà xuất bản Y học 2001, tr72-83.
  6. Lâm Hoài Phương (2002), “Phẫu thuật tạo hình di chứng chấn thương tầng giữa mặt” Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Tr 146-152.
  7. Trần Văn Trường, Trương Mạnh Dũng (1999), “Tình hình chấn thương hàm mặt tại Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội trong 11 năm (1988-1998)” trên 2149 trường hợp “, Tạp chí y học Việt Nam, số (10-11),tr 71-80.
  8. Phạm Văn Tuấn (2003), Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy xương hàm trên LeFort II, Luận văn thạc sỹ y học, Hà Nội.

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

  1. Brian R.S (1996), “ Treatment of Communicated Mandibular Fractures by Open Reduction and Rigid Internal Fixation”, J.Oral Maxillofac Surg, pp. 328-331.
  2. Celin S.E (1997), “ Fractures of the upper facial and midfacial skeleton. Plastic and reconstructive surgery section 13”, Operative Otolaryngology head and neck. Vol (2), Editor Myer EN.WB Saunders company, pp.1143-1194.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

DỊCH VỤ CỦA NHA KHOA LẠC VIỆT

Leave a Reply

Your email address will not be published.